Menu Chính
Trang chủ
Giới thiệu
Hoạt động NCCB
Hoạt động ứng dụng
Hoạt động đào tạo
Hội nghị - Hội thảo
Trung tâm tư liệu
Đối tác

Liên kết website
header header
Giám sát truyền thông toàn cầu


Một sự kiện rất có ý nghĩa là vào ngày 10 tháng 11 năm 2009, trên toàn cầu đã diễn ra hoạt động Giám sát truyền thông toàn cầu, thuộc dự án về Giới trên Truyền thông, tên Tiếng Anh là Global Media Monitoring Project (GMMP). Đây là một dự án kéo dài và rộng lớn nhất trên thế giới về sự hiện diện của phụ nữ trên truyền thông và là sáng kiến vận động chính sách quy mô nhất cho đến nay về vấn đề này.  


Ý tưởng một ngày nghiên cứu về mô  tả phụ nữ và nam giới trên truyền thông được hình thành từ Hội nghị quốc tế “Truyền thông thay đổi phụ nữ” tổ chức tại Bangkok năm 1994.

Ý tưởng tạo ra nhằm 5 mục đích chính:
•    Mô tả chân dung phụ nữ trên media
•    Phát triển các công cụ nghiên cứu
•    Xây dựng củng cố quan hệ bền chặt giữa Giới và Truyền thông trên toàn thế giới
•    Tạo ra nhận thức trên phương tiện truyền thông, và
•    Phát triển kĩ năng giám sát truyền thông cấp quốc tế.

Cho đến nay, ý tưởng này đã trải qua 15 năm và đã được sự ủng hộ nhiệt tình của các nhóm tham gia trên toàn thế giới. Năm 1995 có 71 nước tham gia với 50 000 bản tin được giám sát, năm 2000 – 70 nước tham gia với 16 000 bản tin, năm 2005 – 76 nước tham gia với 13 000 bản tin và năm 2010 có 130 nước đã cùng tham gia giám sát này.

Với một sự nỗ lực làm việc tuyệt vời, những kết quả của dự án rất có ý nghĩa. Năm 1995, bản kết quả được trình bày tại Diễn đàn các tổ chức NGO tại Bắc Kinh vào tháng tháng 9 năm 1995; kết quả năm 2000 được nói đến tại Hội nghị Liên hợp quốc Bắc kinh +5 vào tháng 6 năm 2000; Năm 2009, kết quả sẽ được xuất bản đúng thời điểm các sự kiện toàn cầu lớn, trong đó có Hội nghị Bắc Kinh +15 và Cuộc họp thượng đỉnh xem xét lại Mục tiêu thiên niên kỉ.  

Kết quả của GMMP được sử dụng theo rất nhiều cách khác nhau cho các nhóm hoạt động về Giới và Truyền thông, nghiên cứu, đào tạo cho người làm truyền thông, cho những người hưởng dịch vụ truyền thông, vận động chính sách và các hoạt động vận động hành lang khác. Công cụ của GMMP đã được làm phù hợp và sử dụng nhiều nơi trên thế giới trong các nghiên cứu cụ thể. Ch ẳng hạn như ở Jamaica, kết quả 2000 đã được sử dụng trong phát triển chính sách truyền thông. Giám đốc điều hành của Uỷ ban truyền thông nói “đó là thông tin vô cùng quan trọng cho công việc của Uỷ  ban, đặc biệt là trong việc hình thành và thực hiện các chuẩn hoá việc đưa tin về giới trên truyền thông đại chúng Jamaica. Ở Senegal, Mạng liên Châu phi vì phụ nữ, truyền thông, giới và Phát triển tiếp tục áp dụng phương Pháp GMMP trong các hội thảo tập huấn cho các tổ chức ở Tây và Trung Phi. Ở Argentina, GMMP 2005 đã được phổ biến để thúc đẩy thành lập nên mạng lưới quốc gia của các nhà báo vì truyền thông có trách nhiệm giới. Trong hội thảo “Phụ nữ và Liên minh của các nền  văn minh: Cơ hội và thách thức” tổ chức vào tháng 4 năm 2008, Giám đốc của Viện nghiên cứu và đào tạo quốc tế của UN vì sự tiến bộ của phụ nữ đã trích dẫn kết quả của GMMP để nhấn mạnh giá trị và việc cần phải có nhiều nghiên cứu hơn về hình ảnh của phụ nữ và nam giới trên các phương tiện truyền thông. Báo cáo GMMP và “Who makes the news?” đã được tham khảo rộng rãi trên toàn thế giới, từ Báo cáo phát triển con người của Arab của UNDP gần đây cho đến trang web của Liên đoàn quốc tế về nhà báo và tổ chức Giáo dục văn hoá của UN- UNESCO.

GMMP liên quan đến mục tiêu J2 trong Cương lĩnh hành động Bắc Kinh:  Thúc đẩy sự mô tả cân bằng và không nhấn mạnh khuôn mẫu về phụ nữ trên truyền thông. (Promote a balanced and non-stereotyped portrayal of women in the media). Mô tả Giới trong các bản tin thời sự là kết quả của rất nhiều các khía cạnh thực hành làm báo. Từ góc độ câu chuyện và lựa chọn các câu hỏi phỏng vấn đến việc sử dụng ngôn ngữ và lựa chọn hình ảnh, tất cả đều mang những thông điệp được thể hiện trong bản tin. Một số yếu tố trong rất nhiều các phân tích sẽ cho ta hình dung sơ bộ bức tranh về Giới trên truyền thông như thế nào.

Một điểm quan trọng là GMMP cho phép các nhóm trên thế giới chuyển từ những chỉ trích từ một phía về truyền thông sang đối thoại xây dựng với truyền thông. Là một công cụ, sức mạnh của GMMP nằm ở chỗ nó cung cấp những số liệu và câu chuyện thực tế như là một “nguồn lương thưc” cho những người làm báo - tiếp cận tới các chuyên gia về truyền thông một cách trực tiếp, gần gũi mà chưa bao giờ lý thuyết và các tranh luận nhỏ làm được.

Theo như kết quả năm qua 10 năm, theo từng giai đoạn, sự hiện diện của phụ nữ trên bản tin có tăng lên chút ít trên toàn thế giới, nhưng nhìn chung, tỉ lệ này cũng vẫn còn rất ít so với thực tế cần phải có. Phụ nữ chỉ chiếm 21% nhân vật được đề cập đến trong bản tin- những người được phỏng vấn, những người mà bản tin nói đến. Mỗi phụ nữ xuất hiện trên bản tin thì có đến 5 nam giới. Theo châu lục, Bắc Mỹ, Châu Đại Dương có tỉ lệ cao nhất, thấp nhất vẫn là Trung Đông rồi đến Châu Á. Khắp nơi trên thế giới, phụ nữ là thiểu số những người hiện diện trong bản tin. Tại Việt Nam, sự hiện diện của phụ nữ cũng xấp xỉ số trung bình toàn cầu, nhưng nó vẫn thể hiện sự áp đảo của nam giới xuất hiện trong các bản tin thời sự. So sánh với một số nước, ở Châu Á, Trung Đông, Châu Âu và Bắc Mỹ, thậm chí một số nước ở Châu Âu cũng rất hạn chế trong việc thể hiện hình ảnh của phụ nữ trên các bản tin. Một số nước ở Châu Á thì lại vượt trội hơn như Bangladesh, điều này thể hiện sự không đồng đều nhau và việc phụ nữ hiện diện trên truyền thong đại chúng phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố.    Chỉ có rất ít phần trăm phụ nữ là trung tâm của bản tin, hay nói cách khác, là bản tin nói về người phụ nữ đó, 6% ở Trung Đông và đến Bắc Mỹ cũng chỉ 20% là cao nhất.

Dù hiện diện ít như thế, ta thử xem phụ nữ thường xuất hiện ở đâu trong các lĩnh vực được nhắc đến trên truyền thông. Họ hiện diện chủ yếu trong các lĩnh vực nghệ thuật, các buổi lễ kỉ niệm, lĩnh vực giáo dục, sức khỏe, xã hội. Còn họ rất ít xuất hiện trong lĩnh vực kinh tế, đặc biệt là chính trị. Ở Việt Nam, tình hình cũng tương tự như vậy. Số liệu từ giám sát 2005 cho thấy phụ nữ Việt Nam ít xuất hiện trong các tin về kinh thế và chính trị.

Hình: Sự hiện diện của phụ nữ trong các bản tin thời sự

Và khi xuất hiện, phụ nữ làm gì trong bản tin? Phụ nữ lại cũng chỉ hiện diện để đại diện cho ý kiến công chúng, hoặc nêu ra các kinh nghiệm của cá nhân, mà không phải là các chuyên gia hay người phát ngôn như nam giới.  Ở Việt nam, phụ nữ là chủ thể của bản tin lại càng ít hơn, tức bản tin không phải để nói về họ, họ chỉ xuất hiện chỉ để nêu ý kiến công chúng mà thôi.
 
Nghề nghiệp của phụ nữ xuất hiện trong bản tin chủ yếu liên quan đến lĩnh vực nghệ thuật, xã hội, trong khi nam giới là chính trị gia hay nhân viên chính phủ. Theo số liệu thông tin toàn cầu n ăm 2005, nam giới chiếm đến 88% là chính trị gia, phụ nữ chỉ12%.

Sang một yếu tố khác, các bản tin cũng đề cập đến các nhân vật là nạn nhân, ở đây số liệu cho ta thấy, phụ nữ là nạn nhân gấp gần 2,5 lần so với nam giới. Ở một số nước như Mỹ và Thụy Sĩ thì số liệu này còn cao hơn. Thế nhưng phụ nữ lại xuất hiện ít hơn khi mô tả họ là nạn nhân của tai nạn, tội phạm hay chiến tranh. Họ thường được mô tả như là nạn nhân của bạo lực tình dục, các thực hành văn hóa, bạo lực gia đình.

Một yếu tố tinh tế ẩn hiện hơn mà không phải ai cũng chú ý, phụ nữ là nhân vật trong bản tin được xuất hiện đi kèm với yếu tố gia đình gấp 3 lần nam giới. Phụ nữ được mô tả như là vợ, là con gái hoặc là mẹ đến 17% trong khi nam giới được mô tả là chồng, là con trai, là bố, v.v… chỉ có 5%. Ngay cả trong các bản tin nói đến vấn đề chính quyền/quyền lực xã hội, con số này là 5% đối với phụ nữ là người phát ngôn (cho một đảng phái chính trị, nhóm quyền lực) trong khi chỉ 1% đối với nam giới. Xu hướng mô tả phụ nữ trong mối quan hệ với gia đình làm giảm vị trí  của phụ nữ trong các bản tin thời sự hoặc các thành quả đạt được trong lĩnh vực xã hội.

Một điểm quan trọng, các bản tin liên quan đến khuôn mẫu giới, bao gồm tăng cường và thách thức khuôn mẫu giới. Ở đây khuôn mẫu giới là những giá trị, niềm tin được định sẵn, quy định những đặc điểm điển hình của nam và nữ. Bản tin thách thức khuôn mẫu giới là bản tin làm thay đổi những khuôn mẫu có sẵn, làm thay đổi hình ảnh của phụ nữ và nam giới khác với những gì họ thể hiện theo truyền thống). Còn tăng cường khuôn mẫu giới là bản tin làm nhấn mạnh thêm vai trò, vị trí của phụ nữ và nam giới như truyền thống (thường là bất bình đẳng). Theo số liệu giám sát năm 2005, có đến 6% bản tin tăng cường khuôn mẫu giới trong khi chỉ có 2% bản tin thách thức khuôn mẫu giới. Ở Việt Nam con số này khác biệt rất nhiều với 14% và 2%. Tỉ lệ các tin liên quan đến nâng cao nhận thức về Giới rất ít. Tuy nhiên xét theo khu vực, chúng ta lại thấy có sự khác nhau. So sánh Việt Nam và một số nước, Mỹ vẫn là nước đứng đầu về số lượng bản tin này.
 
Đó là các nhân vật trong nội dung bản tin, thế còn những người làm tin thì sao? Chủ yếu tỉ lệ các phát thanh viên là nữ thường cao hơn nam, nhưng phóng viên nam thì lại chiếm tỉ lệ nhiều hơn nữ. So sánh Việt Nam và một số nước, số lượng nam luôn nhiều hơn nữ, lên đến 77%. Tại sao lại như vậy, và còn nhiều số liệu nói lên rằng tỉ lệ nam/nữ là phóng viên trong những tin về lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội hay giáo dục, sức khoẻ cũng có sự khác biệt.

Rõ ràng là bức tranh về Sự hiện diện của phụ nữ trên truyền thông, cụ thể là trong các bản tin thời sự có sự thay đổi rất chậm chạp trong vòng 10 năm. Số liệu về năm 2010 cũng sẽ cho ta thấy cụ thể hơn. Tuy nhiên với một giả định là tốc độ thay đổi cũng không đáng kể. Tại sao lại như vậy? Và chúng ta có thể làm gì để thay đổi nó? Hay gần hơn là chúng ta có thể sử dụng kết quả GMMP như thế nào để có thể làm cho bức tranh sáng sủa hơn? Điều này vẫn còn tuỳ thuộc rất nhiều vào cố gắng của tất cả những cá nhân/tổ chức hoạt động trên lĩnh vực giới và truyền thông, và tuỳ thuộc vào tất cả chúng ta.


Cao Hồ Thu Thuỷ  -
Các thông tin được tổng hợp từ trang web Who makes the news? (http://www.whomakesthenews.org/)
và nguồn số liệu từ Báo cáo GMMP năm 2005, trong đó số liệu về Việt Nam được lấy từ phụ lục thống kê của báo cáo Global media monitoring project 2005:
(Margaret Gallagher. Who makes the news? – Global media monitoring project 2005. 357 Kennington Lane. London.SE11 5QY.UK.)

 
< Trước   Tiếp >
header
Dự án chính đang triển khai


Thăm dò trực tuyến
Người truy cập
Chúng ta có 10 khách trực tuyến
Visitors Counter
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterToday47
mod_vvisit_counterYesterday112
mod_vvisit_counterThis week894
mod_vvisit_counterThis month504
mod_vvisit_counterAll40671

Bản quyền © 2006, Trung tâm nghiên cứu Giới, Gia đình & Môi trường trong Phát triển (CGFED)
19-A26 Nghĩa Tân - Cầu Giấy - Hà Nội - Việt Nam
Điện thoại: 84-4-37565 929 - Fax: 84-4-37565 874
Email: cgfed@hn.vnn.vn -::- Website: www.cgfed.org.vn