Tư vấn sau phá thai cần được thực hiện đầy đủ, thân thiện và chuẩn mực với thanh niên chưa kết hôn
GFED (Trung tâm nghiên cứu Giới, Gia đình và Môi trường trong Phát
triển) và RAFH (Viện Sức khoẻ sinh sản và Gia đình) là hai tổ chức hoạt
động trong lĩnh vực khoa học xã hội. Sức khoẻ sinh sản và Giới là một
trong những lĩnh vực hoạt động chính. Cả hai tổ chức đều tích luỹ được
nhiều kinh nghiệm qua hơn 15 năm thực hiện các hoạt động nghiên cứu và
can thiệp tới nhiều nhóm, tầng lớp dân cư khác nhau ở nông thôn cũng như
thành thị. Cả hai tổ chức đều là thành viên của một số mạng lưới các tổ
chức phi chính phủ trong nước và khu vực.
Góp phần đánh giá việc thực hiện chương trình hành động ICPD + 15 ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, chúng tôi đã hoàn thành một báo cáo nghiên cứu, chủ yếu dựa trên cơ sở tài liệu, thông tin thứ cấp về vấn đề phá thai ở Việt Nam. Một trong những khía cạnh được đề cập đến ở báo cáo này rất cần được thực sự lưu tâm đó là tư vấn và chăm sóc sức khoẻ sau phá thai, đặc biệt với nhóm thanh niên chưa lập gia đình.
Ở Việt Nam, phụ nữ có quyền phá thai theo nguyện vọng. Quyền này được thể chế hoá tại khoản 1 điều 44 chương VIII của Luật bảo vệ sức khoẻ nhân dân năm 1989. Tiếp theo đó là rất nhiều các văn bản dưới luật về vấn đề chăm sóc sức khoẻ sinh sản liên quan đến nạo phá thai và tư vấn nạo phá thai, thậm chí hướng tới nhóm đặc thù là vị thành niên, thanh niên như: QĐ136/2000/QĐ-TTg về việc phê duyệt “Chiến lược quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản giai đoạn 2001-2010"; Quyết định số 2010/QĐ-BYT ngày 07/6/2006 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc phê duyệt Kế hoạch tổng thể Quốc gia về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe vị thành niên và thanh niên Việt Nam giai đoạn 2006 - 2010 và định hướng đến năm 2020. Hướng dẫn Chuẩn Quốc gia về các dịch vụ chăm sóc SKSS (29/4/2003); Hướng dẫn cung cấp dịch vụ sức khoẻ thân thiện với VTN/TN của Bộ y tế năm 2007.
Chính phủ và ngành y tế nói riêng đã rất nỗ lực để giảm thiểu phá thai, đặc biệt là phá thai không an toàn, tuy nhiên, con số phá thai và những tai biến liên quan vẫn không ngừng tăng. Trong tổng số 3.047 phụ nữ trả lời đã từng phá thai trong vòng 5 năm qua, nạo thai chiếm 29,8%, tỉ lệ hút thai sớm là 70,2%. Cũng theo kết quả điều tra này cho thấy tai biến do phá thai khá cao (35,3%), trong đó tai biến nạo thai (42,7%) cao hơn tai biến hút điều hoà kinh nguyệt (32,4%). (Điều tra Y tế quốc gia 2001-2002).
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU GIỚI, GIA ĐÌNH VÀ MÔI TRƯỜNG TRONG PHÁT TRIỂN
VIỆN SỨC KHỎE SINH SẢN VÀ GIA ĐÌNH
Tỷ lệ phá thai của nhóm trẻ, chưa kết hôn chiếm một tỷ lệ không nhỏ. Số liệu cuối những năm 90s cho thấy “có ít nhất 30% ca nạo hút thai thực hiện ở hai thành phố lớn là Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh là các em gái chưa kết hôn” (MOH, 1997). Hay như nghiên cứu về phá thai tại hai tỉnh Quảng Ninh và Thái Bình cho thấy 26.8% lượt người đi phá thai ở tuổi vị thành niên (Châu và Hoa, 1999). Gần đây, theo Điều tra Quốc gia về Vị thành niên và Thanh niên Việt Nam (SAVY) 85% nữ thanh niên đã từng có thai cho biết họ sinh con, chỉ có 7.2% đã từng phá thai và khoảng 3.6% bị sảy thai trong lần có thai đầu tiên, nhưng dữ liệu từ các nghiên cứu khác lại chỉ ra rằng mức độ phá thai của nữ thanh niên, vị thành niên cao hơn, và thường ước tính chiếm 20-30% tổng số ca phá thai của cả nước mỗi năm. Nghiên cứu 190 phụ nữ chưa chồng phá thai cho thấy có 20.53% là học sinh, sinh viên (Vy và Hoà, 2007:28)
Hoạt động tư vấn trước và sau phá thai được quy định rõ trong các văn bản chính sách đã ban hành, song trên thực tế đều được đề cập tới với đánh giá về sự thiếu hụt, thiếu chất lượng và thiếu kỹ năng. Các bài viết, nghiên cứu, trao đổi đề cập đến một số nguyên nhân cơ bản của hoạt động tư vấn không đầy đủ, thiếu chuẩn mực và chưa đạt chất lượng, đó là: áp lực thiếu thời gian-đông khách hàng, cán bộ y tế chưa được trang bị tốt kỹ năng tư vấn, cán bộ cũng như cơ sở y tế còn chưa nhạy cảm và thân thiện đối với khách hàng trẻ chưa lập gia đình. Thêm vào đó, tại các cơ sở y tế công, quyền riêng tư của khách hàng chưa được đảm bảo là nguyên nhân để cơ sở y tế tư nhân được lựa chọn nhiều hơn. Điều đáng lo ngại là: các cơ sở y tế tư nhân thường lại không đảm bảo an toàn về vệ sinh, kỹ thuật cũng như việc chăm sóc và tư vấn sau phá thai. Có thể nói, chưa thực sự thực hiện tốt công tác tư vấn sau phá thai cũng là một trong các nguyên nhân của tỷ lệ phá thai và nguy cơ sức khoẻ sau phá thai cao. Điều này đã biến phá thai trở thành một căn bệnh gắn với triệu chứng mang thai không mong muốn nhiều lần và những tổn hại về sức khoẻ thể chất và tinh thần của phụ nữ.
Vào thời điểm nửa cuối năm 2009, Bộ Y tế đang trong quá trình hoàn thiện Chuẩn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản và chuẩn bị ban hành Thông tư hướng dẫn nhiệm vụ quản lý và chuyên môn kỹ thuật trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ sinh sản tại các tuyến y tế năm 2009. Đây cũng chính là thời điểm mà chúng tôi hy vọng gửi gắm những đề xuất đối với Bộ Y tế về những yếu tố đảm bảo cho việc thực hiện đầy đủ, chuẩn mực và nghiêm túc hoạt động tư vấn sau phá thai, đặc biệt chú ý đến nhóm nữ thanh niên chưa lập gia đình trong nội dung trong các văn bản chính sách. Những yếu tố đó cần bao gồm: quy định nội dung, thời gian, môi trường và kỹ thuật tư vấn; cơ chế giám sát và đánh giá ở cả dịch vụ y tế công và tư. Những điều chỉnh và bổ sung cụ thể về vấn đề này chắc chắn sẽ đáp ứng được mong đợi của phụ nữ nói chung và nhóm nữ thanh niên chưa lập gia đình nói riêng, đồng thời sẽ đem lại một tác động mạnh mẽ trong phòng ngừa và giảm thiểu các nguy cơ với sức khoẻ sinh sản liên quan đến phá thai.
Cùng với nhiều tổ chức, mạng lưới xã hội dân sự có cùng mối quan tâm, chúng tôi đã, đang và sẽ cố gắng nỗ lực đóng góp thông qua các hoạt động cung cấp thông tin trực tiếp và gián tiếp bằng các buổi nói chuyện, các hội thảo chia sẻ thông tin, các xuất bản phẩm, các tài liệu liên quan nhằm giảm tỷ lệ phá thai, giảm nguy cơ sức khoẻ do phá thai trong nhóm các bạn trẻ chưa lập gia đình, bảo vệ sức khoẻ sinh sản, đảm bảo quyền sinh sản vì một cuộc sống có sức khoẻ và chất lượng cho các thế hệ tương lai.